Tổng quan về con người theo Đông Y và Tây Y

blog-dong-y-tay-y

co_the_con_nguoi

Khái niệm Đông Y Tây Y
Quan điểm Con người gắn với thiên nhiên = Con người là một tiểu vũ trụ Cơ thể con người là một khối thông nhất bao gồm rất nhiều cơ quan, hệ cơ quan  khác nhau. Mỗi cơ quan thực hiện chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều được cấu tạo từ các tế bào. Bởi vậy tế bào được coi là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể.
Trong vũ trụ, hai khí âm – dương luôn tồn tại song song và chuyển động không ngừng nên muôn vật được hình thành và tồn tại . Dưới đất có ngũ hành Kim – Thủy – Mộc – Hỏa Thổ (Kim – Nước – Cây – Lửa – Đất) hình thành nên vật chất. Trên trời có lục khí Phong – Hàn – Thấp – Thử – Táo – Hỏa (Gió – Lạnh – Mưa Ẩm – Nắng – Khô – Nóng). Sáu khí này vận chuyển tạo nên trạng thái thay đổi của thời tiết . Sự phát triển và tồn tại của con người, muôn vật đều phụ thuộc vào các yếu tố thiên nhiên, ngũ hành, lục khí. Các cơ quan khác nhau có cùng một chức năng tạo thành hệ cơ quan chủ yếu là hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ bài tiết, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ sinh dục, hệ nội tiết
Diễn giải  Con người được sinh ra do tinh huyết của cha mẹ (tiên thiên), được nuôi dưỡng không ngững nhờ hai khí âm – dương bên ngoài (hậu thiên), hít thở khí trời (khí dương) ăn uống các vật chất sản sinh từ đất (khí âm) mà tồn tại. Trong cơ thể có 2  khí âm – dương luôn chuyển động ở thể cân bằng. 2.1 Hệ vận động: Gồm hệ xương khớp (bộ xương) và hệ cơ: Có nhiệm vụ giúp cơ thể thực hiện cácđộng tác lao động, di chuyển.
Hệ Xương: Bao gồm khối xương đầu mặt (Xương trán, xương đỉnh, xương bướm, xương chẩm, xương thái dương, khối xương mặt), xương cột sống (Cột sống cổ, cột sống ngực, cột sống thắt lưng, cùng cụt, xương sườn), xương chi trên (xương vai, xương cánh tay, xương trụ, xương quay, xương cổ tay, và các xương bàn ngón tay), xương chi dưới (xương chậu, xương đùi, xương chày, xương mác và các xương cổ chân, xương bàn ngón chân)
Hệ Cơ: Cơ tim, cơ vân, cơ trơn hoặc cơ nhóm đầu, mặt, cổ, cơ chi trên, cơ chi dưới, cơ hoành…..
Âm: Đại diện cho vật chất thủy: tân dịch, tinh huyêt 2.2 Hệ tuần hoàn: Gồm tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch, mao mạch, bạch huyết) có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng, oxy vá hormon đến các tế bào và mang các chất thải ra ngoài.
Dương: Đại diện cho cơ năng, hỏa, nhiệt năng, khí, thần. Tim: Gồm tâm thất, tâm nhĩ, tiểu nhĩ, nội tâm mạc, ngoại tâm mạc , các van tim
Những yếu tố này tạo nên nguồn dinh dưỡng (tinh, khí, huyết, tân dịch và thần là cơ sở vật chất của tạng phủ) của toàn thân và chức năng sinh lý của ngũ tạng, lục phủ. Mạch: động mạch, tĩnh mạch, mạch bạch huyết
Máu: Huyết tương, hồng cầu, tiểu cầu
Tinh: Là cơ sỏ vật chất của các hoạt động sống và cơ năng trong cơ thể có nguồn gốc từ bẩm tố do bố mẹ truyền lại (tinh tiên thiên), từ tỳ vị vận hóa, thủy thấp phân bổ (tinh hậu thiên). Hai nguồn này luôn bổ sung cho nhau tham gia vào sinh dục và phát dục của cơ thể. 2.3 Hệ Hô Hấp: Gồm đường dẫn khí và phổi có nhiệm vụ trao đổi oxy trong không khí vào phổi và thải khí carbonic ra ngoài
Đường dẫn khí: Mũi, thanh quản, khí, phế quản
Phổi: tiểu phế quản, phế nang, màng trao đổi khí
Khí: Thúc đẩy huyết mạch và công năng tạng phủ kinh lạc. Nguồn gốc do tiên thiên và hậu thiên, có 4 loại khí: Nguyên khí, Tông khí, Dinh khí và Vệ khí 2.4 Hệ bài tiết: Hệ tiết niệu và tuyễn mồ hôi
Hệ tiết niệu: Thận (là cơ quan lọc máu từ những chất thừa và có hại cho cơ thể để thải ra ngoài) , niệu quản, bàng quang, niệu đạo.
Tuyến mồ hôi: Da, tuyến mồ hôi có nhiệm vụ bài tiết va điều hòa thân nhiệt.
Huyết: Được hình thành từ chất tinh vi của thủy cố do tỳ vị vận hóa, được khí thúc đẩy trong huyết mạch mà nuôi dưỡng toàn thân 2.5 Hệ tiêu hóa: Gồm các ống tiêu hóa và cá tuyến tiêu hóa. Hoạt động của hệ tiêu hóa làm thức ăn biến đổi thành chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể và thải chất cạn bã ra ngoài
Tân dịch: Tân là chất trong, dịch là chất đục, nuôi dưỡng các tạng phủ, cơ nhục, kinh mạch và tạo thành huyết dịch, bổ sung cho huyết dịch, bổ sung cho tinh tủy, nhuận da lông và làm khớp vận động dễ dàng. Ống tiêu hóa: Răng, miệng, lưỡi, thực quản, dạ dày, tá tràng, ruột non, ruột già, trực tràng, ruột thừa, hậu môn.
Thần: Là sự vận động tinh thần, ý thức và tư duy của cong người, là biểu hiện bên ngoài của tinh – khí – huyết- tân dịch. Tuyến tiêu hóa: Gan, tụy, nước bọt, tuyến ruột.
Những yếu tố này tạo nên nguồn dinh dưỡng (tinh, khí, huyết, tân dịch và thần là cơ sở vật chất của tạng phủ) của toàn thân và chức năng sinh lý của ngũ tạng, lục phủ. 2.6 Hệ thần kinh: Gồm thần kinh trung ương (não bộ và tủy sống)  và các dây thần kinh . Có nhiệm vụ điều khiển sự hoạt động của các cơ quan, làm cơ thể thích nghi với thay đổi của môi trường và nội môi (cơ chế điều hòa thần kinh). Đặc biệt bộ não hoàn thiện và phát triển phức tạp là cơ sở của hoạt động tư duy và ý thức.
Ngũ tạng: Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận Thần kinh trung ương: Đại não, tiểu não, thân não, hành não, tủy sống
Lục phủ: Đởm, Tiểu tràng, Vị, Đại tràng, Bàng Quang, Tam tiêu Thần kinh ngoại biên: 12 Đôi dây thần kinh sọ não, dây thần kinh tủy, hach thần kinh
Con người là một vũ trụ thu nhỏ. Mối liên hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên thể hiện mối quan hệ giữa ngũ tạng , lục phủ, ngũ hành, lục khí 2.7 Hệ sinh dục: Là cơ quan có chức năng sinh sản, duy trì nòi giống. Hệ sinh dục phân hóa thành tinh hoàn ở nam và bường trứng ở nữ.
Ngũ tạng , lục phủ biến hóa và vận chuyển khí huyết nuôi dưỡng toàn thân. Các tạng đều giữ Tinh để trữ ở Thận , tinh sung vào tủy, tủy dồn về não. Thần được chứa trong Tâm và các tạng đều có chức năng về  hoạt động tinh thần. Can chủ mưu toan, tính toán nhưng hay tức giận. Tâm chủ vui mừng nhưng cũng kinh cuồng. Tỳ chủ suy nghĩ nhưng hay lo lắng. Phế chủ thương tiếc nhưng hay buồn sầu. Thận có chí bền nhưng hay run sợ. 2.8 Hệ nội tiết: Gồm các tuyến nội tiết như tuyến dưới đồi, tuyến tùng, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến ức, tuyến tụy, tuyến thượng thận, các tuyến sinh dục….. Có nhiệm vụ tiết hormon vào máu đến các tế bào (tuyến đích) để cân bằng hoạt động sinh lý của cơ thể người (cơ chế điều hòa thể dịch)
Đặc biệt các tạng phủ đều liên lạc với các bộ phận của cơ thể từ đầu não đến tay chân bằng mạng lưới của hệ kinh lạc. Kinh lạc là nơi tuần hoàn của khí huyết để nuôi dưỡng toàn thân, duy trì hoạt động bình thường của cơ thể nhưng cũng là đường mà các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài (ngoài tà) sử dụng để xâm nhập vào các tạng phủ. Ngoài ra còn có một số hệ cơ khác nhu hệ bao bọc (Da, lá thành, lá tạng) Hệ giác quan (mắt, khứu giác, tiền đình óc tai, vị giác, xúc giác…). Sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn có sự phối hợp hoạt động thống nhất, các cơ quan phối hợp hoạt động nhịp nhàng nhằm đảm bảo tính thống nhất. Tính thống nhất đó được thực hiện nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng máu có mang hormon của tuyến nội tiết (cơ chế thể dịch). Do đó con người luôn điều chỉnh trong sự nhịp nhàng thông qua sự điều chỉnh hoạt động các cơ quan trong cơ thể đẻ thích nghi với hoạt động sống.
Chính sự liên hệ chặt chễ giữa các bộ phận của cơ thể , tạng phủ và kinh lạc nên thông qua biểu hiện mạch tượng ở hai tay, có thể biết tình hình sinh lý, bệnh trạng của các tạng phủ và cơ thể cho việc chuẩn đoán và trị bệnh. Đây là phép Thiết, một trong 4 phép xác định bệnh của Đông Y (Vọng Chẩn, Văn Chẩn, Vấn Chẩn, Thiết Chẩn). Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến hoạt động của trí nhớ, tư duy, ý thức của con người. Hoạt động tư duy, ý thức của con người là một hoạt động phức tạp còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Các hoạt động tư duy, ý thức dựa trên nền tảng của các hoạt động thàn kinh cùng với các giác quan, trong đó hoạt động điện tế bào thàn kinh hình thành các đường hầm thần kinh là cơ sở của sự nghi nhớ và học tập. Mặt khác có các hoạt động điện mang tính chất động , chủ động trong các cung phản xạ tự động (phản xạ không điều kiện).
Bệnh lý  Bệnh lý là do sự thiên lệch của Âm – Dương trong cơ thể  kết hợp với nhân tố bên ngoài gây trở ngại cho công năng chuyển hóa của tạng phủ, khí huyết. Do đó xác định phương hướng trị bệnh là loại trừ các nhân tố gây bệnh và điều bổ tạng phủ, khí huyết hư yếu để lập lại trạng thái ban đầu của cơ thể Quá trình bệnh lý phát sinh gây biến đổi hàng loạt các hoạt động tế bào, cơ quan trong cơ thể dẫn đến sự giải phóng các tác nhân  (độc tố, chất trung gian hóa học làm thay đổi nội môi cơ thể). Quá trình điều trị nhằm tái lập lại môi trường nội môi, điều hòa lại các chức năng của các cơ quan trong cơ thể
Nguyên nhân
gây bệnh
” Chính khí tồn nội, Tà bất khả can Bẩm sinh: Down, Thalamia, đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể…
  Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư “ Nhiễm trùng: Do vi khuẩn, vi rus, kí sinh trùng, nấm…
Bệnh tật phát sinh do chính khí hư yếu, bệnh tà mới có thể tụ lại và phát bệnh, nếu chính khí đầy đủ, sức đề kháng cơ thể khỏe mạnh thì không dễ sinh bệnh được Chấn thương: Tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, bỏng…
YHCT phân loại nguyên nhân sinh bệnh thành 3 nhóm lớn: nội nhân, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân Rối loạn chuyển hóa: RLCH lipid, RLCH đường huyết. Acid uric…
Nội nhân: Thất tình (vui buồn, mừng, lo, sợ…) Hệ thống bệnh miễn dịch, tự miễn
Ngoại nhân: Do lục khí sinh ra bệnh (Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) Yếu tố nguy cơ: Giới tính, tuổi tác, môi trường sinh hoạt, Lối sống sinh hoạt, chế độ ăn, stress
Nội ngoại nhân: Không nằm trong 2 nguyên nhân trên (Đả thương, hỏa khí, trùng đốt, đàm ẩm…)
Share this post
  , ,